Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Vitamin tăng cường miễn dịch chống nCoV

Dưới đây là một số vitamin và khoáng chất để nâng cao sức đề kháng và miễn nhiễm, nhằm phòng virus corona:

Vitamin A

Người ta còn gọi là "vitamin chống nhiễm khuẩn, virus", có vai trò rõ rệt cả với miễn dịch dịch thể và miễn nhiễm tế bào. Tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn ở con trẻ mà duyên do do thiếu vitamin A rất cao. Thiếu vitamin A liên quan chặt chẽ đến suy dinh dưỡng (tăng trưởng kém), tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng và tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ thơ. Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định rằng biện pháp bổ sung vitamin A có thể làm giảm 23% tử vong ở con trẻ.

Vai trò của vitamin A với đáp ứng miễn dịch được tả ở vai trò của vitamin A với tính toàn vẹn của các biểu mô. Thiếu vitamin A các biểu mô quá sản, sừng hóa, các tuyến ngoại tiết giảm bài tiết, khả năng ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn giảm đi. Da và niêm mạc khô dẫn đến dễ nhiễm khuẩn. song song, nếu bôi mỡ có chứa vitamin A vào các tổn thương ở da có tác dụng xúc tiến quá trình nhanh liền sẹo.

Vitamin A có nhiều trong gấc, bồ ngót, rau dền cơm, gan gà, gan lợn, gan bò...

Vitamin E

Vitamin E (tocopherols) làm tăng tính miễn nhiễm bằng cách bảo vệ tế bào khỏi bị tổn thương, do đó tăng sức đề kháng của thân với các bệnh nhiễm khuẩn mạnh hơn. Làm chậm tiến triển bệnh sa sút trí não (Alzheimer), bảo vệ vitamin A và chất béo của màng tế bào khỏi bị oxy hóa, tham gia vào chuyển hóa tế bào. Vitamin E bảo vệ các chất béo trong não khỏi các gốc tự do, đặc biệt là các chất béo omega-3 DHA và EPA, trong đó tụ hợp ở tế bào tâm thần.

Khoa học cho thấy tocotpherols là chất bảo vệ tế bào thần kinh quan trọng, vì giúp chặn các tín hiệu viêm diệt tế bào não. Những người ăn nhiều loại thực phẩm từ tocopherols cho thấy giảm đáng kể việc suy giảm nhận thức và bệnh Alzheimer. Bên cạnh việc bảo vệ tế bào thần kinh, vitamin E cũng có liên quan đến phòng chống bệnh ung thư và bảo vệ tim mạch.

Vitamin E có nhiều trong các thực phẩm nguồn gốc thiên nhiên: đậu tương, giá đỗ, vừng lạc, mầm lúa mạch, dầu hướng dương, dầu ô-liu và các loại rau có lá màu xanh đậm.

Vitamin C

Vai trò tăng cường miễn nhiễm, chúng hỗ trợ sinh sản interferon-là loại protein do tế bào thân tạo ra để chống lại tác nhân gây bệnh, là thành phần đạm quan trọng của hệ miễn nhiễm. cần thiết cho các tế bào miễn nhiễm T và bạch huyết cầu. Từ đó làm tăng chức năng của hệ miễn dịch.

Vitamin C giúp tiếp nhận tốt chất sắt để tạo máu, hỗ trợ chuyển sắt từ huyết thanh vào ferritin để dự trữ ở gan và giải phóng sắt từ ferritin vào huyết thanh khi có nhu cầu. Giúp tiếp nhận tốt canxi bằng cách ngăn can xi chuyển thành dạng khó hòa tan. Chuyển acid folic từ dạng không hoạt động thành dạng hoạt động và giữ ổn định ở dạng hoạt động.

Ngoài ra, vitamin C còn có tác dụng chống oxy hóa, phòng bệnh tim mạch và tạo collagen là thành phần chính của mô liên kết như sụn, xương, răng, cho sự bền vững của mao mạch và của da. Thiếu vitamin C, sự mẫn cảm với các bệnh nhiễm khuẩn tăng lên, người bị nhiễm khuẩn thì vitamin C trong máu thường giảm, thiếu vitamin C tính thấm mao quản tăng, mạch dễ vỡ, da khô ráp.

Nếu ăn đủ vitamin C, các glubulin miễn nhiễm IgA và IgM tăng, hoạt tính của bạch huyết cầu tăng, kích thích chuyển dạng các lymphô bào và giúp tạo thành các bổ thể. Vitamin C giúp tăng tiếp nhận các chất khoáng vi lượng (sắt, kẽm...) là những vi chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động trí não.

Hơn 90% lượng vitamin C có trong khẩu phần ăn được cung cấp từ các loại trái cây và rau củ. Các thực phẩm giàu vitamin C: rau ngót, rau mùi tàu, rau dền, rau đay, rau mùng tơi, hành hoa, các loại quả như bưởi, đu đủ, quýt, cam, chanh...

Vitamin nhóm B

Trong các vitamin nhóm B, vai trò folat và pyridoxin đáng để ý hơn cả. Thiếu folat làm chậm sự tổng hợp của các tế bào dự vào các cơ chế miễn dịch. na ná như thiếu sắt, miễn nhiễm dịch thể ít bị ảnh hưởng hơn miễn dịch qua trung gian tế bào. Trên thực tại ở con nít nhất là phụ nữ có thai, thiếu folat thường đi kèm thiếu sắt là hai nhân tố gây thiếu máu dinh dưỡng. Thiếu pyridoxin (vitamin B6) làm chậm các chức năng miễm dịch, cả dịch thể và trung gian tế bào.

Các vitamin nhóm B có nhiều trong cám gạo, ngũ cốc, các loại hạt đậu, mè, mầm lúa mì, tim, gan.

Ngoài ra, rất nhiều chất khoáng và vi khoáng tham gia vào miễn dịch, trong đó vai trò của sắt, kẽm được nghiên cứu nhiều hơn cả.

Sắt

Sắt cần thiết cho tổng hợp AND, tức thị nó cần thiết cho quá trình phân bào. ngoại giả sắt còn tham gia vào nhiều enzym can thiệp vào quá trình phân giải bên trong tế bào. Thiếu sắt, nhiễm khuẩn tăng. Thiếu sắt thường kèm theo thiếu protein - năng lượng, vì vậy khi bổ sung sắt cho trẻ nít suy dinh dưỡng cần để ý sau khi đã phục hồi dinh dưỡng từ 5 đến 7 ngày, nếu không sắt tự do sẽ là yếu tố thuận tiện cho phát triển các vi khuẩn. Sắt gây ảnh hưởng đến miễn nhiễm qua trung gian tế bào hơn là miễn dịch dịch thể. Do đó tiêm chủng để chống các bệnh nhiễm khuẩn vẫn có tác dụng ở những trẻ con bị thiếu sắt vừa phải. Ở nơi có bệnh sốt rét, việc bổ sung sắt cần đi kèm với uống thuốc phòng sốt rét.

Sắt có nhiều trong nấm mèo, nấm hương, rau dền đỏ, đậu tương, tiết bò, bầu dục lợn, lòng đỏ trứng vịt, cua đồng...

Kẽm

Kẽm có vai trò sinh vật học rất quan trọng là tác động tuyển lựa lên quá trình tổng hợp, phân giải acid nucleic và protein. Kẽm giúp tăng cường miễn nhiễm, giúp làm vết thương mau lành và giúp duy trì vị giác, khứu giác. Kẽm tham dự vào hàng trăm enzym chuyển hóa trong cơ thể, vì thế khi thiếu kẽm trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa do giảm sức đề kháng. ngoại giả khi thiếu kẽm trẻ thường có biểu lộ biếng ăn chậm lớn, chậm phát triển chiều cao.

Các thức ăn giàu như thịt, cá, tôm, sò, sữa, trứng, ngao, hàu...

Mọi người cần thực hành bổ sung vi chất dinh dưỡng (viên đa vi chất dinh dưỡng, hoặc sản phẩm dinh dưỡng có chứa vi chất sắt, kẽm, vitamin A, D, E...) nếu khẩu phần ăn không đủ các chất dinh dưỡng nói trên, hoặc khi cơ thể được bác sĩ dinh dưỡng chẩn đoán là bị thiếu vi chất dinh dưỡng.

Thạc sĩ Nguyễn Văn Tiến

Trung tâm Giáo dục Truyền thông dinh dưỡng - Viện Dinh dưỡng quốc gia

0 nhận xét:

Đăng nhận xét